Thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát về PCTN được cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra (UBKT) các cấp trong tỉnh chú trọng thực hiện, tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc lãnh chỉ đạo triển khai thực hiện chủ trương, nghị quyết, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác PCTN và những lĩnh vực, nội dung dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; từ đó nhiều vụ việc vi phạm, kịp thời phát hiện xử lý hoặc đề nghị cấp thẩm quyền xử lý những cá nhân có hành vi tham nhũng và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vi để xảy ra tham nhũng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân, đóng góp tích cực vào công tác phòng ngừa tham nhũng tại địa phương.

Đoàn công tác của Tỉnh uỷ do đồng chí Phạm Bạch Đằng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ (phát biểu) làm việc tại Đảng bộ huyện Ngọc Hiển

Kết quả từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020 đến nay, UBKT các cấp tham mưu giúp cấp uỷ kiểm tra chấp hành đối với 57 tổ chức (01 ban cán sự đảng, 01 ban thường vụ huyện uỷ, 01 ban giám đốc sở, 34 đảng uỷ, 20 chi bộ) và 28 đảng viên (có 07 huyện uỷ viên và tương đương, 13 đảng uỷ viên cơ sở, 05 bí thư chi bộ, 02 chi uỷ viên); trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ kiểm tra 03 tổ chức, ban thường vụ huyện uỷ và tương đương kiểm tra 41 tổ chức và 28 đảng viên, đảng uỷ cơ sở kiểm tra 13 tổ chức. Nội dung: Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 03-01-2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; Nghị định số 78/2013/NĐ-CP, ngày 17-7-2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Chỉ thị số 50-CT/TW; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI và Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị (khoá XII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN,LP; Kế hoạch số 34-KH/TU, ngày 01-8-2012 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về thực hiện Kết luận số 21-KL/TW; thực hiện các giải phòng ngừa tham nhũng; quản lý, điều hành, thu chi ngân sách. Qua kiểm tra, kết luận: có 27 tổ chức và 23 đảng viên có mặt còn hạn chế, đề nghị 26 tổ chức và 23 đảng viên rút kinh nghiệm, 01 tổ chức nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Giám sát chuyên đề đối với 11 tổ chức (01 ban cán sự đảng, 01 ban lãnh đạo cục thuế, 05 đảng uỷ, 04 chi bộ) và 06 đảng viên (01 Tỉnh uỷ viên, 01 huyện uỷ viên, 02 đảng uỷ viên cơ sở, 01 bí thư chi bộ cơ sở); trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ giám sát 02 tổ chức và 02 đảng viên, ban thường vụ huyện uỷ và tương đương  giám sát 09 tổ chức và 04 đảng viên. Nội dung: Việc lãnh chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ; thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng. Kết quả: có 06 tổ chức và 04 đảng viên có mặt còn hạn chế, đề nghị rút kinh nghiệm 05 tổ chức và 03 đảng viên, nghiêm túc rút kinh nghiệm 01 tổ chức và 01 đảng viên.

UBKT các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 01 đảng đoàn và 15 đảng viên (02 Tỉnh uỷ viên, 02 đảng uỷ viên cơ sở) trong đó, UBKT Tỉnh uỷ kiểm tra 01 đảng đoàn và 10 đảng viên, UBKT huyện uỷ kiểm tra 05 đảng viên. Nội dung: Việc đầu tư xây dựng cơ bản, các dự án mua sắm tài sản, trang thiết bị, quản lý thu, chi tài chính, sử dụng tài sản tài trợ, viện trợ, biếu tặng; kê khai tài sản, thu nhập; môi giới thủ tục hành chính; nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trục lợi. Qua kiểm tra kết luận: đảng đoàn và 04/15 đảng viên có hạn chế, khuyết điểm; đề nghị kiểm điểm rút kinh nghiệm 01 tổ chức và 01 đảng viên, kiểm điểm nghiêm túc rút kinh nghiệm 03 đảng viên; có 11/15 đảng viên vi phạm, phải xem xét thi hành kỷ luật 10 đảng viên. Qua đó, kiến nghị thu hồi nộp nguồn quỹ của đơn vị 52.312.000 đồng; nộp ngân sách 218.320.000 đồng.

Giám sát chuyên đề đối với 09 tổ chức đảng (05 đảng uỷ cơ sở, 04 chi bộ cơ sở) và 14 cấp uỷ viên (có 01 Tỉnh uỷ viên; 01 huyện uỷ viên; 04 bí thư, 02 phó bí thư, 01 uỷ viên ban thường vụ, 01 đảng uỷ viên cơ sở; 01 bí thư, 03 phó bí thư chi bộ); trong đó, UBKT Tỉnh uỷ giám sát 11 đảng viên, UBKT huyện uỷ giám sát 09 tổ chức và 03 đảng viên. Nội dung: Việc chấp hành Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Kết quả: 04 tổ chức đảng và 14 đảng viên có mặt còn hạn chế; đề nghị rút kinh nghiệm 03 tổ chức và 04 đảng viên, nghiêm túc rút kinh nghiệm 01 tổ chức và 03 đảng viên, kiểm điểm rút kinh nghiệm 03 đảng viên, kiểm điểm nghiêm túc rút kinh nghiệm 04 đảng viên.

Thông qua công tác kiểm tra và phát hiện vi phạm, các cấp uỷ, UBKT có thẩm quyền thi hành kỷ luật 10 đảng viên (02 Tỉnh uỷ viên, 01 huyện uỷ viên, 01 đảng uỷ viên cơ sở, 01 chi uỷ viên) là người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng; trong đó, Tỉnh uỷ kỷ luật 02 đảng viên, huyện uỷ kỷ luật 02 đảng viên, UBKT huyện uỷ kỷ luật 05 đảng viên, đảng uỷ cơ sở kỷ luật 01 đảng viên; bằng các hình thức: khiển trách 07, cảnh cáo 02, khai trừ 01. Đồng thời, thi hành kỷ luật 47 đảng viên, có 18 cấp uỷ viên (01 nguyên huyện uỷ viên, 12 đảng uỷ viên cơ sở, 05 chi uỷ viên) vi phạm; trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ kỷ luật 01 đảng viên, huyện uỷ và ban thường vụ huyện uỷ kỷ luật 08 đảng viên, UBKT huyện uỷ kỷ luật 21 đảng viên, đảng uỷ cơ sở kỷ luật 14 đảng viên, chi bộ kỷ luật 03 đảng viên; bằng các hình thức: khiển trách 12, cảnh cáo 09, cách chức 07, khai trừ 19. Nội dung: Nhũng nhiễu, vòi vĩnh khi thi hành công vụ 01 trường hợp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi 11 trường hợp; chiếm dụng 15 trường hợp; nhận hối lộ 02 trường hợp; nhận môi giới làm thủ tục hành chính 07 trường hợp; tham nhũng 11 trường hợp.

Đạt được những kết quả tích cực như nêu trên là do một số nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, các cấp uỷ, UBKT các cấp, nhất là người đứng đầu luôn quan tâm đến công tác PCTN, xem đây là nhiệm vụ quan trọng từ đó lãnh chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát, kịp thời triển khai, quán triệt thực hiện nghiêm túc chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác PCTN và cụ thể hóa thực hiện phù hợp với tình hình, nhiệm vụ chính trị được giao, như Quy định số 01-QĐi/TW, ngày 10-5-2018 của Bộ Chính trị về trách nhiệm và thẩm quyền của UBKT trong công tác PCTN; Quy định số 08-QĐ/TU, ngày 26-7-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý. Thứ hai, chủ động đưa nội dung PCTN vào chương trình công tác kiểm tra, giám sát hằng năm và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Thứ ba, UBKT cùng với các cơ quan, đơn vị chủ động thực hiện nhiệm vụ phối hợp khá chặt chẽ, tham mưu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ do cấp uỷ giao và nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng. Nhiều giải pháp, biện pháp phòng ngừa tham nhũng được UBKT các cấp thực hiện khá đồng bộ, có hiệu quả. Thứ tư, đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp trong tỉnh cơ bản phát huy được tinh thần trách nhiệm trong công tác đấu tranh PCTN; có quan điểm, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có ý thức đấu tranh PCTN,LP.

Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát công tác PCTN từng lúc, từng nơi hiệu quả chưa cao; một số ít cấp uỷ, tổ chức đảng từng lúc chưa xác định rõ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát công tác PCTN nên có cán bộ, đảng viên có hành vi chiếm dụng, môi giới, nhận hối lộ… chậm phát hiện, gây dư luận, bức xúc trong nhân dân.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát về công tác PCTN trong thời gian tới, UBKT các cấp trong tỉnh cần quan tâm một số nội dung:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT các cấp và cán bộ, đảng viên về PCTN,LP; tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCTN, nhất là tiếp tục quan tâm lãnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện đạt kết quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 3 khóa X và tổ chức thực hiện tốt Quy định số 01-QĐi/TW, ngày 10-5-2018 của Bộ Chính trị về trách nhiệm và thẩm quyền của UBKT trong công tác phòng, chống tham nhũng; Quy định số 08-QĐ/TU, ngày 26-7-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý.

Hai là, tập trung xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp ủy, UBKT từng cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ kiểm tra, giám sát về công tác PCTN; chú trọng kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, tham nhũng và việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên; tiếp nhận, giám sát các bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý. Thực hiện tốt công tác tự kiểm tra trong nội bộ cơ quan, đơn vị để kịp thời phát hiện các sai phạm về tham nhũng.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong Ngành, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ phẩm chất, liêm chính, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bốn là, UBKT các cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tiếp tục thực hiện quy chế phối hợp đạt hiệu quả thiết thực hơn. Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa tham nhũng tại cơ quan, đề cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác PCTN; thực hiện việc kê khai, công khai tài sản, thu nhập đối với cán bộ, công chức thuộc diện kê khai bổ sung phát sinh hằng năm đúng quy định; thực hiện tốt công tác công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan./.

Khánh Hưng