Thống kê về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng là thu thập, phân tích, diễn giải và trình bày các dữ liệu trong hệ thống bảng biểu để đánh giá chính xác kết quả hoạt động của cấp ủy và ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp, tình hình thực tế về diễn biến tư tưởng, xu hướng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên trong một khoảng thời gian nhất định nhằm giúp cho các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là các đồng chí trong thường trực cấp ủy, lãnh đạo UBKT các cấp nhìn nhận chính xác tình hình, đề ra chủ trương, chính sách phù hợp về công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng nói riêng.

Ngày 04 tháng 11 năm 2016, UBKT Trung ương ban hành Quyết định số 357-QĐ/UBKTTW về việc ban hành 22 biểu mẫu “Báo cáo thống kê số liệu công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng” khóa XII. Theo đó, biểu mẫu thống kê mang tính thống nhất từ UBKT Trung ương đến UBKT cấp cơ sở, thể hiện các chỉ tiêu kết quả trong việc thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định và nhiệm vụ cấp ủy giao về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng. Số liệu thống kê bảo đảm được tính chính xác, hệ thống, phản ánh trung thực, khách quan tình hình thực tiễn của cơ sở; phải nhập đúng ô, đúng dòng; không được chỉnh, sửa số liệu theo suy đoán cân đối của người tổng hợp số liệu.

Qua thời gian triển khai thực hiện cập nhật các biểu mẫu số liệu thống kê về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật, UBKT các cấp trong tỉnh cơ bản thực hiện tốt, việc cập nhật và báo cáo số liệu thống kê đúng thời gian theo quy định; tuy nhiên, vẫn có một số cán bộ, công chức phụ trách công tác thống kê ở UBKT cấp huyện và cơ sở chưa nắm rõ một số quy ước trong tổng hợp số liệu, từ đó tổng hợp số liệu chưa chính xác, ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo thống kê, gây khó khăn và mất nhiều thời gian cho UBKT cấp trên khi tổng hợp số liệu.

Để từng bước khắc phục được hạn chế, tồn tại nêu trên; ở phạm vi bài viết mong muốn chia sẻ một số quy ước chung khi tổng hợp số liệu thống kê (tập trung vào những biểu mẫu mà địa phương thực hiện chưa chính xác, như: thống kê về lĩnh vực đảng viên công tác, hay đảng viên bị thi hành kỷ luật nhiều lần trong cùng kỳ báo cáo; đảng viên bị kỷ luật và được giải quyết khiếu nại...) nhằm giúp cán bộ, công chức làm công tác thống kê số liệu ở UBKT cấp huyện và cơ sở hiểu rõ hơn, thực hiện tốt hơn, nâng cao chất lượng công tác thống kê số liệu công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, cụ thể:

Thứ nhất, đối với biểu số 05 (Thi hành kỷ luật đảng viên của cấp ủy) và biểu số 15 (Thi hành kỷ luật đảng viên của UBKT các cấp): Trong cùng kỳ báo cáo (6 tháng, 01 năm) nếu 01 đảng viên có nhiều lần bị thi hành kỷ luật thì chỉ thống kê số lượng đảng viên bị thi hành kỷ luật là 01 lần, nhưng các lần kỷ luật có bao nhiêu nội dung thì thống kê hết các nội dung vi phạm; hình thức kỷ luật chỉ thống kê hình thức cao nhất. Nếu 01 đảng viên bị thi hành kỷ luật, sau đó có khiếu nại, được giải quyết khiếu nại thì căn cứ kết quả giải quyết khiếu nại cuối cùng để đưa vào biểu xử lý kỷ luật, không thống kê hình thức kỷ luật ban đầu.

Ảnh minh họa biểu mẫu thống kê

Về các lĩnh vực đảng viên công tác cần xác định rõ: Về Đảng gồm các đồng chí làm công tác đảng chuyên trách (bí thư, phó bí thư thường trực cấp ủy, trưởng, phó các ban đảng, cán bộ, công chức, nhân viên trong các ban đảng, bí thư, phó bí thư, chi ủy viên chi bộ ấp, khóm...); lĩnh vực nhà nước gồm: Các đồng chí công tác ở các cơ quan, tổ chức Nhà nước (viện kiểm sát, toà án, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, các sở, ban, ngành trực thuộc hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, cán bộ, công chức, nhân viên làm công việc ở chính quyền các cấp, trưởng ấp, khóm); lĩnh vực đoàn thể gồm: Các đồng chí công tác ở Mặt trận Tổ quốc, công tác Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Cựu Chiến binh, Liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn lao động ở các cấp; lực lượng vũ trang gồm các đồng chí công tác trong quân đội, công an; sản xuất kinh doanh gồm những đảng viên làm công tác trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở các doanh nghiệp nhà nước, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân; ngoài các lĩnh vực đã nêu ở trên, như đảng viên làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở nông thôn (xã, phường, thị trấn), cán bộ nghỉ hưu... thì thống kê vào lĩnh vực khác.

Thứ hai, tại mục c, tiết 1.2.1, Điểm 1.2, khoản 1, Điều 30 (trang 01 của Hướng dẫn số 01-HD/UBKTTW, ngày 21-11-2016 của UBKT Trung ương thực hiện một số Điều trong Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng) ghi: “Cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chủ trì giải quyết hoặc tham mưu cho ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy giải quyết tố cáo...”. Như vậy, khi cần thiết ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy trực tiếp giải quyết tố cáo theo quy định của cấp ủy cùng cấp về giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý. Cụ thể năm 2018, có ban thường vụ cấp ủy huyện trực tiếp giải quyết tố cáo đối với đảng viên; do trong 22 biểu mẫu số liệu thống kê do UBKT Trung ương ban hành, chưa có biểu mẫu nào lấy số liệu thống kê giải quyết tố cáo của ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy, nên các địa phương tổng hợp số liệu này vào biểu số 16 (Giải quyết tố cáo đảng viên của UBKT các cấp) và biểu số 17 (Giải quyết tố cáo tổ chức đảng của UBKT các cấp), cách làm này chưa đúng.

Để tổng hợp đầy đủ, chính xác số liệu thống kê công tác giải quyết tố cáo của cấp ủy, cán bộ làm công tác thống kê không được cập nhật số liệu này vào các biểu số 16, 17, mà chỉ ghi chú phía dưới biểu mẫu với nội dung giống như báo cáo lời: ban thường vụ hoặc cấp ủy giải quyết tố cáo đối với … đảng viên (… cấp ủy viên); nội dung tố cáo…; qua giải quyết, kết luận: tố sai…, chưa có cơ sở kết luận…, tố đúng và đúng một phần…

Thứ ba, đối với nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm cũng tương tự: Tiết 2.2.2, Điểm 2.2, khoản 2, Điều 30 (trang 02 của Hướng dẫn số 01-HD/UBKTTW, ngày 21-11-2016 của UBKT Trung ương thực hiện một số Điều trong Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng) ghi: “Tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm ở các lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, quan trọng hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành thì ban thường vụ cấp ủy hoặc cấp ủy quản lý đảng viên, tổ chức đảng đó quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm”. Nhưng trong 22 biểu mẫu số liệu thống kê chưa có biểu mẫu nào lấy số liệu kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, chỉ có biểu số 9 (Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT các cấp và chi bộ) và biểu số 10 (Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT các cấp). Về cách thực hiện giống như mục 2 (giải quyết tố cáo của cấp ủy) nêu trên.

Thứ tư, trong thực hiện quy chế phối hợp giữa UBKT đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy với UBKT các huyện ủy, thành ủy về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; khi thành lập đoàn kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo, khiếu nại và quyết định xem xét thi hành kỷ luật có sự phối kết hợp giữa các đơn vị với nhau, nên xảy ra trường hợp cả hai đơn vị đều tổng hợp số liệu thống kê dẫn đến trùng số liệu. Do đó cần thống nhất là đơn vị nào chủ trì kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo, khiếu nại và quyết định thi hành kỷ luật, thì số liệu thống kê cho đơn vị đó (hay nói cách khác là quyết định thành lập đoàn do đơn vị nào ký, đóng dấu thì đơn vị đó báo cáo số liệu).

Thứ năm, hiện nay có một số thông báo kết luận kiểm tra hoặc thông báo kết quả giám sát của UBKT ghi “tổ chức đảng hoặc đảng viên còn mặt hạn chế”; trong khi đó, tiêu chí một số biểu mẫu số liệu thống kê là “tốt” hoặc “chưa tốt”. Do đó, cán bộ làm công tác thống kê phải xem xét lại hồ sơ, nếu có hạn chế khuyết điểm thì xem như chưa tốt.

Khánh Hưng