Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm (DHVP) trong Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp; DHVP xảy ra trong nhiều lĩnh vực; tính chất, mức độ của những DHVP tinh vi, phức tạp; có những cuộc kiểm tra khi có DHVP đối với tổ chức đảng, đảng viên gặp không ít khó khăn, mất nhiều thời gian, phải huy động nhiều nguồn lực, có trường hợp kết luận chưa rõ, dẫn đến những khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên không được chỉ rõ để cảnh báo, ngăn chặn hoặc xử lý kịp thời. Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác kiểm tra khi có DHVP là hết sức cần thiết, yếu tố quyết định cần phải có kỹ năng (phương pháp) thẩm tra, xác minh chặt chẽ, chi tiết, khoa học, đúng quy định. Qua quá trình kiểm tra thực tế và nghiên cứu các tài liệu, xin trao đổi về “Một vài kỹ năng cơ bản trong công tác thẩm tra, xác minh khi tiến hành một cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm”, như sau: (bài viết có sử dụng một số nội dung trong tài liệu bài giảng của lớp bồi dưỡng ngạch kiểm tra viên chính năm 2018 do UBKT Trung ương biên soạn).

Thứ nhất, đối với công tác thu thập tài liệu và cách gợi ý xây dựng báo cáo tự kiểm tra:

DHVP có hay không thì phải có chứng cứ để chứng minh, đó là các nguồn tài liệu (nghị quyết, quy định, chỉ thị, quyết định, kết luận, biên bản, báo cáo…) và vật chứng (cơ sở chứng minh) có giá trị mà đối tượng sử dụng để thực hiện nhiệm vụ, có liên quan đến nội dung kiểm tra; cách gợi ý cho đối tượng xây dựng báo cáo tự kiểm tra cần trọng tâm, cụ thể, ngắn gọn, đầy đủ.

Nghiên cứu thật kỹ nội dung kiểm tra để yêu cầu đối tượng được kiểm tra cung cấp tài liệu chính xác, đúng quy định và thông báo trước cho đối tượng kiểm tra chuẩn bị những tài liệu cần cung cấp cho đoàn kiểm tra (xây dựng danh mục cung cấp tài liệu gửi cho đối tượng kiểm tra).

Không nên thu thập các tài liệu, vật chứng không liên quan đến việc phân tích, đánh giá, nhận xét của đoàn mặc dù có liên quan đến nội dung kiểm tra (hay nói cách khác là thu thập tràn lan, theo kiểu “vãi chài”); không yêu cầu cung cấp văn bản của cấp trên, văn bản này do đoàn kiểm tra tự thu thập. Tài liệu do đối tượng kiểm tra ban hành, tài liệu do cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện sự việc đó và những văn bản “Mật”, tài liệu có “Bút phê” hoặc tài liệu được phát hành, chỉ gửi riêng cho đối tượng kiểm tra hoặc tài liệu của địa phương thì phải yêu cầu cung cấp (Ví dụ: Hồ sơ đấu thầu, thì không yêu cầu cung cấp tất cả hồ sơ, chỉ yêu cầu cung cấp văn bản có liên qua trực tiếp đến nội dung cần làm rõ).

Hạn chế các bảng, biểu do đoàn kiểm tra tự lập, tốt nhất là yêu cầu đối tượng cung cấp bảng, biểu do mình tự lập (có ký tên xác nhận và đóng dấu).

Đối với gợi ý xây dựng báo cáo tự kiểm tra: Xây dựng đề cương không nên hướng dẫn quá chi tiết, chỉ nêu đề mục lớn, nếu không sẽ trở thành gợi ý theo cách “liệt kê” dẫn đến thiếu hoặc thừa nội dung khi báo cáo. Đề cương nên bám chặt vào lĩnh vực, ngành của đối tượng được kiểm tra (Ví dụ: Nếu liên quan đến lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử thì phải hướng dẫn báo cáo đúng theo trình tự điều tra, truy tố, xét xử; quản lý nhà nước thì phải đúng theo trình tự quản lý nhà nước…).

* Lưu ý: Tài liệu thu thập trước khi quyết định, tiến hành kiểm tra là tài liệu “trinh sát”, cho nên khi cần thì phải chuyển thành tài liệu chính thức (được đóng dấu của tổ chức cung cấp hoặc ký tên của cá nhân, nếu cá nhân cung cấp).

Thứ hai, đọc, nghiên cứu tài liệu xác định nội dung cần thẩm tra, xác minh làm rõ DHVP:

Đây được xem là một trong những khâu quan trọng, để xác định khối lượng công việc mà đoàn kiểm tra phải thực hiện. Vì đọc, nghiên cứu tài liệu sẽ phân tích, đánh giá xem có vi phạm không? Nếu có thì phải thẩm tra, xác minh những vấn đề, nội dung khi chưa rõ, chưa biết.

Khi đọc, nghiên cứu tài liệu, thành viên đoàn kiểm tra cần ghi chép, phân tích, đánh giá cẩn thận, như: Về thời gian, không gian, trình tự, thủ tục, thẩm quyền… để tìm ra cái bất hợp lý, có vi phạm hay không. Sau đó gửi lại cho thư ký đoàn kiểm tra để tổng hợp, báo cáo lãnh đạo đoàn kiểm tra xem xét, quyết định.

Thứ ba, tiến hành thẩm tra xác minh:

Công tác thẩm tra, xác minh là công việc trọng tâm nhất của cuộc kiểm tra khi có DHVP. Vì vậy, có phương pháp làm việc chặt chẽ, nắm chặt quy trình, trình tự của từng nội dung, lĩnh vực mà mình kiểm tra; phát huy tính tự giác, tự phê bình và tự kiểm tra của đối tượng được kiểm tra, đối chiếu đầy đủ các quy định, hướng dẫn của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, quy định của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội… đảm bảo sự công khai, minh bạch, khách quan, thuyết phục.

Ví dụ: Đối với lĩnh vực giải quyết tố cáo phải nắm được quy trình, thủ tục (có đơn người tố cáo; người có thẩm quyền, trách nhiệm làm việc với người tố cáo xác định nội dung đơn và chữ ký trong đơn; văn bản thụ lý giải quyết đơn hoặc văn bản trả lời không thụ lý đơn; người có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết đơn…); đối với việc bổ nhiệm cán bộ (trình tự các bước quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nhận xét, đánh giá trước khi thực hiện các bước tiếp theo để ban hành quyết định bổ nhiệm); lĩnh vực đất đai (trình tự giao đất, chuyển mục đích sử dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng…), đối chiếu các quy định để nhận dạng, đánh giá những vi phạm theo từng nội dung kiểm tra.

Trong thẩm tra, xác minh nên chú ý đến bối cảnh sự việc xảy ra (thời điểm xảy ra sự việc thì cơ chế lúc đó như thế nào; nhiệm vụ của cơ quan, người ra quyết định lúc diễn ra sự việc; có sự thay đổi về nhận thức, cơ chế, chính sách từ thời điểm xảy ra cho đến thời điểm tiến hành kiểm tra). Xác định sai quy định nào, vì sao sai, ai chủ trương, quyết định, thực hiện; trong đó, phải xác định cho được một số vấn đề có tính quyết định, như: Về tính chất, quy mô vi phạm, có tính tổ chức không, cố ý hay vô ý, cách che giấu, thủ đoạn, tái phạm… Về kết quả, diễn ra như mong muốn không hoặc thay đổi do có sự tác động trong quá trình thực hiện; kết quả nào đạt được hoặc không đạt được hoặc gây hậu quả nghiêm trọng nhất. Về động cơ, lúc đưa ra quyết định đó, trong quá trình thực hiện vì quyền lợi của chung hay vì lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân một người nào đó. Về mục đích, để làm gì, có lợi ích vật chất hay hay lợi ích khác. Về hậu quả, tức là phạm vi ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, uy tín của tổ chức, cá nhân; mục tiêu lớn trong hậu quả là làm cản trở hoặc vô hiệu hóa việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của tổ chức, cũng như sự quản lý, điều hành trong cơ quan, đơn vị… Từ đó, xác định rõ nguyên nhân từ những kết quả nào mới gây ra hậu quả, để quy trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân, đối chiếu các quy định để xem xét, xử lý cụ thể.

Thứ tư, khi nào thẩm tra, xác minh (làm việc) với tổ chức, cơ quan cấp trên:

Nhằm xác định rõ chứng cứ, nhưng vấn đề chưa rõ đối với những tổ chức, cá nhân liên quan, sự việc có hay không, quy mô như thế nào, mức độ ảnh hưởng, sự tác động đến kinh tế, chính trị, xã hội, uy tín của tổ chức, cá nhân để đánh giá, đề xuất hướng xử lý cho phù hợp, đúng quy định.

Khi làm việc với tổ chức, cơ quan cấp trên, phải chuẩn bị chặt chẽ, đầy đủ về nội dung làm việc; trước khi làm việc, phải thông báo trước rõ về mục đích, yêu cầu cuộc làm việc (có thể báo trước nội dung để tổ chức, cơ quan chuẩn bị); không được làm ảnh hưởng đến việc lãnh đạo, điều hành của cơ quan đó.

Thứ năm, làm việc với đối tượng kiểm tra:

Đoàn kiểm tra cần làm việc (hay nói cách khác là đối thoại) trực tiếp với các cá nhân có liên quan đến nội dung kiểm tra. Để làm tốt vấn đề này, đoàn kiểm tra xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể (thể hiện rõ về đối tượng làm việc là ai? Làm việc ở đâu? Bao nhiêu người tham gia). Lưu ý, không phải bất cứ cuộc làm việc nào với đối tượng, thì tất cả thành viên đoàn phải có mặt, có thể chỉ cần có từ 02 thành viên của đoàn kiểm tra có mặt, nhằm hạn chế sự lãng phí về thời gian, nguồn lực, để tập trung làm việc khác.

Việc đoàn kiểm tra mời đối tượng lên cơ quan làm việc hoặc làm việc với cơ quan cấp ủy, tổ chức, đơn vị cấp trên của đối tượng được kiểm tra phải phù hợp (trừ trường hợp địa bàn cách quá xa với trụ sở cơ quan, đơn vị nêu trên), hạn chế làm việc tại cơ quan của đối tượng, vì đảm bảo những thông tin, tài liệu mà đối tượng cung cấp không bị “rò rĩ” ra bên ngoài, tránh sự tác động của tổ chức, cá nhân khác gây ức chế tâm lý; làm việc phải nghiêm túc, dân chủ, khách quan, nhưng cởi mở, thoải mái, tập trung cho đối thoại, giải trình. Trước khi đối thoại, cần dự kiến câu hỏi trao đổi trước để đối tượng biết chuẩn bị tài liệu cung cấp; làm việc và kiểm tra tài liệu được cung cấp xem có mâu thuẫn hoặc có sai gì không, trách nhiệm ra sao để kiến nghị Thanh tra, cơ quan điều tra cùng cấp hoặc cấp trên làm rõ (nếu có dấu hiệu gây thiệt hại về vật chất, vi phạm pháp luật hình sự).

Kỹ năng viết biên bản làm việc với đối tượng kiểm tra, theo phương pháp hỏi - đáp (tức là người chủ trì làm việc hỏi và người được mời làm việc đáp cho từng nội dung một); trường hợp có ghi âm, thì phải báo cho cá nhân được mời làm việc biết; khi làm việc phải đặt câu hỏi rõ ràng, dứt khoát, đúng mục đích, nội dung, đúng chủ trương, quy định… làm việc khi nào đạt được mục đích thì kết thúc (Ví dụ: Hỏi nhiệm vụ đó có phải là nhiệm vụ của đồng chí được phân công phụ trách, quản lý không? Nếu có phân công thì thể hiện tại văn bản nào? Tại sao ngày mai bàn giao nhiệm vụ để nhận công tác khác, nhưng hôm nay lại ký văn bản này, ngoài đồng chí ra thì còn đồng chí nào có quyền ký văn bản đó được? Nhận thức được hậu quả sẽ xảy ra, tại sao vẫn thực hiện?...).

Trong quá trình làm việc, thì việc đấu tranh lý lẽ với đối tượng là một công việc rất khó của đoàn kiểm tra, nhất là đối với những trường hợp là cấp ủy viên cấp trên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Mặt khác, khi làm việc, tâm lý của đối tượng có khi khó chịu, bức xúc, ức chế… nên phải cẩn trọng và nên thông báo cho đối tượng về một số vấn đề có liên quan, đề nghị giải trình cụ thể và tự xem xét trách nhiệm cá nhân mình như thế nào; đoàn kiểm tra phải chú ý lắng nghe giải trình để phân tích (lỗi, hậu quả để xác định về kinh tế có mất tiền hoặc tài sản không, để xác định việc không tuân thủ các quy định của Đảng, Nhà nước để gây ra thiệt đó? Về mặt xã hội, có ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự hoặc có xảy ra khiếu kiện, tố cáo không, hoặc trở thành điểm nóng của địa phương đó? Về chính trị, có làm mất đoàn kết nội bộ không, có vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ không, tổ chức đảng có bị vô hiệu hóa không…? Động cơ vì lợi ích chung hay riêng…?); làm rõ, xem vi phạm từ nguyên nhân nào, nếu vi phạm mà không có quy định điều chỉnh hoặc có điều chỉnh mà về thời hiệu xem xét trách nhiệm vi phạm đó đã hết hiệu lực, thì cần xem xét, đề xuất hướng xử lý cho phù hợp “có tình, có lý”. Trong trường hợp khẳng định có vi phạm, thì hướng cho đối tượng phải nhìn nhận, xác định vi phạm ở mức độ nào (biên bản phải ghi cụ thể để báo UBKT xem xét, kết luận chính xác, khách quan).

* Lưu ý: Trường hợp hành vi vi phạm của đối tượng được kiểm tra làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tình hình an ninh chính trị của địa phương hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, có dấu hiệu trốn tránh hoặc có dấu hiệu bỏ trốn ra nước ngoài gây khó cho công tác thẩm tra, xác minh, xem xét, xử lý trách nhiệm đối với đối tượng, thì đoàn kiểm tra kịp thời báo cáo UBKT hoặc cấp ủy để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn theo quy định của pháp luật.

Thứ sáu, khi nào cần trợ giúp pháp lý, giám định: Khi tiến hành thẩm tra, xác minh gặp những vấn đề về chuyên môn, chuyên ngành kỹ thuật cao, mà đoàn kiểm tra không thể biết hoặc biết nhưng không thể giải thích chính xác theo chuyên môn, thì đoàn kiểm tra phải báo cáo UBKT hoặc Thường trực UBKT cấp ủy cho ý kiến trợ giúp pháp lý hoặc trưng cầu giám định.

Ví dụ: Về chữ ký, chữ viết trong tài liệu có đúng là của đối tượng được kiểm tra không; xác định hình, ảnh, phim tư liệu… yêu cầu cơ quan, tổ chức có chức năng, thẩm quyền giám định. Lĩnh vực y tế, đối với các thuật ngữ ghi trong hồ sơ như bệnh hiểm nghèo, dị tật bẩm sinh, tâm thần phân liệt… cần cán bộ ngành y tế trợ giúp giải thích (nguồn văn bản quy định)… Lĩnh vực đầu tư xây dựng cầu, lộ, công trình giao thông, như: Cao độ, ta luy âm - ta luy dương, khe co dãn, cốt thép dự ứng lực, mác bê tông… cần cán bộ chuyên ngành trợ giúp.

Thứ bảy, nhận xét, đánh giá và đề xuất, kiến nghị: Phần này rất quan trọng khi đoàn kiểm tra tổng hợp ý kiến của từng thành viên để đưa vào báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh. Trong đó, cần lưu ý khi phân tích, đánh giá phải có tính logics, tính chặt chẽ (thời gian, không gian, tính lịch sử cụ thể…), nhằm đề xuất, kiến nghị đúng quy định.

Nhận xét, đánh giá: Mô tả vi phạm, hậu quả gây ra một cách khách quan, trung thực; xác định yếu tố lỗi do nguyên nhân nào (khách quan, chủ quan), vì động cơ, mục đích gì, do ai thực hiện; xem xét từng giai đoạn khi vụ việc xảy ra cụ thể; cần xác định ai là người chịu trách nhiệm chính hoặc liên đới trách nhiệm.

Đề xuất, kiến nghị: Trong kiểm tra khi có DHVP bắt đầu từ “dấu hiệu vi phạm, đảm bảo với sự việc diễn ra”, nên khi kết thúc thì chỉ dừng lại ở kết luận “có vi phạm hay không vi phạm; vi phạm có đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật hay không hoặc vi phạm có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cấu thành tội phạm không”. Khi kết luận vi phạm, hết sức cẩn trọng, nhận diện cho đúng để dẫn chiếu các quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội áp dụng cho đúng và trúng. Trường hợp có dấu hiệu cấu thành tội phạm đã rõ, theo thẩm quyền của mình, UBKT trực tiếp chuyển hoặc xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy chuyển hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, trong thực tiễn vẫn còn nhiều vấn đề mới phát sinh, có thể sử dụng nhiều kỹ năng thẩm tra, xác minh khác nhau để đạt được mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm tra. Nếu chúng ta nghiên cứu, vận dụng, kết hợp đồng bộ các kỹ năng thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra khi có DHVP, việc nhận diện các vi phạm sẽ chặt chẽ, khách quan, đúng quy định, thực hiện đúng tư t­ưởng chỉ đạo trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, là “Chủ động - chiến đấu - giáo dục - hiệu quả”.

Trịnh Thiên Tài