Thời gian qua, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của uỷ ban kiểm tra các cấp trong tỉnh đã có sự chuyển biến rõ nét, từng bước đi vào nền nếp; tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm để tiến hành kiểm tra và chất lượng, hiệu quả từng cuộc kiểm tra cũng được nâng lên; qua đó, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm đối với một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý vi phạm, có tác dụng giáo dục, răn đe, đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, được tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình.

Theo đó, từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020 đến hết tháng 6 năm 2019, uỷ ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 25 tổ chức đảng cấp dưới (09 đảng uỷ cơ sở, 16 chi bộ) và 158 đảng viên, có 79 cấp uỷ viên (03 Tỉnh uỷ viên, 15 huyện uỷ viên và tương đương, 32 đảng uỷ viên cơ sở, 29 chi uỷ viên); trong đó, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh uỷ kiểm tra 15 tổ chức, 32 đảng viên. Qua kiểm tra, kết luận: các tổ chức đảng và đảng viên đều có hạn chế, khuyết điểm vi phạm; trong đó, có 18 tổ chức đảng và 138 đảng viên vi phạm, phải thi hành kỷ luật 84 đảng viên. Nội dung kiểm tra tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; đoàn kết nội bộ; phẩm chất đạo đức, lối sống; thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao và thực hiện những điều đảng viên không được làm; tài chính và thực hiện chính sách đối với người có công...

Qua thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhận thấy uỷ ban kiểm tra các cấp trong tỉnh có những thuận lợi và khó khăn, hạn chế như sau:

Về thuận lợi: Thứ nhất, các cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp và đảng viên đã nhận thức khá tốt về vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện thường xuyên, đạt kết quả tích cực. Thứ hai, Quyết định số 1319-QĐ/UBKTTW, ngày 10-6-2013 của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương ban hành Quy định về phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm, quyết định kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm và quy trình kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên thể hiện đầy đủ, rõ ràng, làm cơ sở quan trọng trong thực hiện. Thứ ba, Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ và cấp huyện quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra cấp dưới, thường xuyên tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm (Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ tổ chức và phối hợp tổ chức 12 lớp tập huấn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng cho 1.647 cán bộ kiểm tra cấp huyện, bí thư đảng uỷ, cán bộ kiểm tra cơ sở; uỷ ban kiểm tra huyện uỷ và tương đương tổ chức 03 lớp tập huấn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng cho 377 cấp uỷ viên, cán bộ kiểm tra cấp cơ sở và bí thư chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở). Thứ tư, sự phối kết hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin thường xuyên giữa uỷ ban kiểm tra các cấp với các cơ quan, đơn vị có liên quan (theo quy chế phối hợp) trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, tạo được chuyển biến tích cực. Thứ năm, đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp ngày càng trưởng thành hơn qua thực tiễn, nâng cao về trình độ, năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm; nhiều nơi đã mạnh dạn đổi mới tư duy, thay đổi phương pháp tiếp cận thông tin để sàng lọc đối tượng, nội dung tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm phù hợp, kịp thời. Thứ sáu, phần đông đối tượng được kiểm tra thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình trong Đảng, tự giác nhìn nhận khuyết điểm, thiếu sót và chấp hành nghiêm túc kết luận kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Đồng chí Phan Văn Thắng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Huyện uỷ Phú Tân (phát biểu) dự buổi sinh hoạt lệ Chi bộ Điện lực Phú Tân để nắm tình hình đảng viên

Tuy nhiên vẫn còn gặp những khó khăn, hạn chế cần khắc phục, như: Thứ nhất, một số cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra, cán bộ kiểm tra, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, tác dụng của nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; thấy đây là nhiệm vụ khó, va chạm, ảnh hưởng đến thành tích chung của đảng bộ, từ đó một số nơi chưa mạnh dạn thực hiện hoặc thực hiện hiệu quả chưa cao. Thứ hai, hình thức vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên ngày càng đa dạng, nội dung vi phạm diễn ra trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… trong khi một số ít cán bộ kiểm tra trình độ chuyên môn chưa nắm bao quát các lĩnh vực, dẫn đến công tác nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm, xác định nội dung, đối tượng kiểm tra còn lúng túng, thụ động, chủ yếu là kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng ở cơ sở hoặc tổ chức đảng cấp dưới cách một hoặc nhiều cấp; chưa tập trung kiểm tra cấp uỷ viên cùng cấp và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý. Thứ ba, một số tổ chức đảng lựa chọn nội dung giám sát chưa mở rộng, dẫn đến chưa phát hiện được tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm; cụ thể từ đầu năm 2016 đến tháng 6 năm 2019, qua công tác giám sát không có trường hợp nào phải chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Thứ tư, nhiều chi bộ chưa chủ động phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên từ lúc mới manh nha; có không ít uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cấp cơ sở thời gian dài chưa thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Thứ năm, có một số đảng viên là đối tượng kiểm tra còn tư tưởng nặng nề,thiếu hợp tác, thậm chí có trường hợp tìm cách đối phó “chủ thể kiểm tra phát hiện đến đâu, đối tượng kiểm tra cung cấp thông tin, nhận khuyết điểm đến đó”.

Xuất phát từ những khó khăn, hạn chế nêu trên, dẫn đến số lượng cuộc kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020 đến 6 tháng đầu năm 2019 giảm so với thời gian cùng kỳ nhiệm kỳ trước.

Nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm được Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong 6 nhiệm vụ được Điều lệ Đảng quy định và mục đích tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm là nhằm phát hiện kịp thời những dấu hiệu vi phạm, xem xét, kết luận rõ đúng, sai để giúp tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra thấy được ưu khuyết điểm, vi phạm để kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục hoặc xử lý theo quy định. Do đó, đòi hỏi uỷ ban kiểm tra các cấp trong tỉnh cần nâng cao nhận thức, phát huy vai trò trách nhiệm, nhất là tăng cường thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, theo tinh thần tăng số lượng và nâng cao chất lượng từng cuộc kiểm tra. Để làm được điều đó, thiết nghĩ uỷ ban kiểm tra các cấp trong tỉnh cần phải:

Một là, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục để tổ chức đảng và đảng viên nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa, tác dụng của nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhất là tuyên truyền những kinh nghiệm, kỹ năng trong việc phát hiện, xác định dấu hiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, Trang Thông tin điện tử Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ để tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra, cán bộ kiểm tra các cấp nghiên cứu, vận dụng thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm này.

Hai là, uỷ ban kiểm tra cấp trên tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn uỷ ban kiểm tra cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, tập trung vào những vi phạm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, lĩnh vực nhạy cảm, quan trọng, theo Quy định số 195-QĐ/TW, ngày 18-6-2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chỉ đạo của uỷ ban kiểm tra cấp trên với uỷ ban kiểm tra cấp dưới trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Ba là, tiếp tục cụ thể hoá thực hiện nghiêm túc Quyết định số 1319-QĐ/UBKTTW, ngày 10-6-2013 của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương ban hành Quy định về phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm, quyết định kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; trong đó, mở rộng kênh thông tin để xác định, phát hiện dấu hiệu vi phạm, như: qua công tác phản biện xã hội, ý kiến góp ý xây dựng Đảng của quần chúng; công tác phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan; đồng thời tăng cường giám sát chuyên đề, tập trung vào những nội dung, lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, gắn giám sát tổ chức đảng với người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, đơn vị.

Bốn là, nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, xác minh trong kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra phụ thuộc vào việc đánh giá, kết luận chính xác nội dung kiểm tra. Vì vậy, thành viên đoàn (tổ) kiểm tra cần nghiên cứu thật kỹ nội dung kiểm tra để yêu cầu đối tượng được kiểm tra cung cấp tài liệu chính xác; sau đó nghiên cứu, đánh giá, sử dụng, phân tích mối liên hệ của các tài liệu, đồng thời thực hiện tốt công tác tư tưởng để phát huy tính tự giác, tự phê bình và tự kiểm tra của đối tượng được kiểm tra; từ đó tham mưu cho đoàn (tổ) kiểm tra dẫn chiếu các văn bản, quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội áp dụng để kết luận làm rõ đúng, sai đối với từng nội dung kiểm tra.

Năm là, kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ kiểm tra, nhất là cấp cơ sở có đủ trình độ, năng lực thực hiện các cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; đồng thời tăng cường kiểm tra uỷ ban kiểm tra cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nhằm đưa hoạt động kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đi vào nền nếp, đạt hiệu quả cao.

Sáu là, định kỳ Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ cần tổ chức họp giao ban để uỷ ban kiểm tra và cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp có dịp thảo luận, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, cách làm hay, cũng như trình bày những vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, để tìm ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ trọng tâm này tốt hơn. Đây cũng là dịp để uỷ ban kiểm tra và cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp trong tỉnh có điều kiện tự kiểm điểm một cách nghiêm túc việc thực hiện nhiệm vụ này thời gian qua và xác định giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm tra, đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới.

Khánh Hưng