Nhiều điểm mới trong quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Ngày 30/5/2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá XIII ban hành Quy định số 296-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng. Quy định này quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên trong
việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ
thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng (gọi chung là
chủ trương, quy định của Đảng), pháp luật của Nhà nước, có nhiều điểm mới so với
Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021 và Quy định số 262-QĐ/TW, ngày 03/02/2025
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, một số nội dung cụ thể:
Ủy ban kiểm
tra cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ
sở trở lên có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập, quyết định xác minh
tài sản, thu nhập của đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý
(không phải là bí thư, phó bí thư cùng cấp) và đảng viên chuyên trách công tác đảng
hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu giúp việc, cấp ủy.
Ủy ban kiểm tra được lập từ đảng ủy cơ sở trở
lên, do cấp ủy cùng cấp bầu; trường hợp tổ chức đảng thành lập mới, do chia
tách, hợp nhất, sáp nhập, thực hiện công tác luân chuyển cán bộ ngành kiểm tra
đảng thì ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ủy ban kiểm
tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm.
Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc
Trung ương: Số lượng từ 11 đến 13 ủy viên, riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội,
Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh số lượng từ 13 đến 15 ủy viên chuyên trách (do cấp
ủy quyết định). Chủ nhiệm
là Ủy viên Ban Thường vụ, từ 3 đến 4 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực
là cấp ủy viên) và một số ủy viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành
phố Hồ Chí Minh không quá 5 phó chủ nhiệm.
Đoàn
công tác của Thường trực Tỉnh ủy làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Cái Nước
ngày 07/5/2025
Ủy ban kiểm tra đảng ủy xã, phường trực thuộc
cấp tỉnh: Số lượng từ 3 đến 7 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định), phó
bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ đảng ủy làm chủ nhiệm; từ 1 đến 2 phó chủ nhiệm
(trong đó 1 phó chủ nhiệm là cấp ủy viên).
Ủy ban kiểm tra đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh,
thành phố, ủy ban kiểm tra đảng bộ ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và ủy ban kiểm
tra đảng ủy cấp trên trực tiếp khác: Số lượng từ 5 đến 7 ủy viên, có từ 2 đến 3
ủy viên kiêm nhiệm (do cấp ủy quyết định), trong đó phó bí thư hoặc ủy viên ban
thường vụ đảng ủy làm chủ nhiệm; từ 1 đến 2 phó chủ nhiệm. Các ủy viên chuyên
trách gồm: Phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên và một số ủy viên chuyên
trách là cán bộ cơ quan ủy ban kiểm tra đảng ủy.
Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở trực thuộc đảng
ủy các cơ quan đảng và đảng bộ ủy ban nhân dân cấp tỉnh; ủy ban kiểm tra đảng ủy
cấp cơ sở được giao hoặc thí điểm giao một số quyền cấp trên cơ sở: Số lượng từ
3 đến 5 ủy viên, gồm ủy viên chuyên trách và kiêm nhiệm (do cấp ủy quyết định),
chủ nhiệm là phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ cấp ủy, có 1 phó chủ nhiệm; các
ủy viên chuyên trách gồm: Phó chủ nhiệm là cấp ủy viên và một số ủy viên.
Quy định cũng nêu rõ, đối
với ủy ban kiểm tra thuộc đảng bộ thực hiện hợp nhất, sáp nhập (gồm cả Đảng bộ
Công an), thì số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra tại thời điểm hợp nhất, sáp nhập
có thể nhiều hơn số lượng nêu trên nhưng không quá tổng số lượng hiện có của các ủy ban kiểm tra trước khi hợp
nhất, chậm nhất sau 5 năm kể từ ngày thành lập đảng bộ mới, thì số lượng phải
thực hiện theo Quy định này. Trường hợp có những yêu cầu khác thì cấp
ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy phải báo cáo với cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên
trực tiếp, khi được sự đồng ý (bằng văn bản) mới tổ chức thực hiện.
Đảng viên bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách
chức bao gồm cả chức vụ do đại hội, cấp ủy, ủy ban kiểm tra bầu, do chỉ định hoặc
bổ nhiệm, trong vòng một năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực, không được quy
hoạch, không được bầu vào cấp ủy, không được chỉ định, bổ nhiệm vào các chức vụ
tương đương và cao hơn.
Trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm
toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh
tế, nếu phát hiện vi phạm pháp luật liên quan đến cán bộ thuộc diện Trung ương
quản lý thì người đứng đầu cấp ủy của các cơ quan, đơn vị phải báo cáo ngay cho
đồng chí Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chống tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực là Thường trực Ban Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Trưởng Ban
Nội chính Trung ương để tham mưu cho đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo chỉ
đạo xử lý; đồng thời chuyển ngay hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban Kiểm tra
Trung ương để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng.
Thời hạn giải quyết tố cáo tổ chức đảng và đảng viên: Chậm nhất
60 ngày đối với cấp tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương trở xuống (quy
định trước đây là chậm nhất 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành, huyện, quận và
tương đương trở xuống); 90 ngày đối với cấp Trung ương, kể từ ngày ký quyết
định giải quyết tố cáo. Về giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng: Chậm nhất 60 ngày
đối với cấp tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương trở xuống; 90 ngày
đối với cấp Trung ương (quy định trước đây chậm nhất 90 ngày đối với cấp tỉnh,
thành phố, huyện, quận và tương đương trở xuống; 180 ngày đối với cấp Trung
ương), kể từ ngày nhận được khiếu nại (gửi trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện
chuyển đến) phải xem xét, giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng, đảng viên khiếu
nại biết….
Quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký,
thay thế Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021, Quy định số 262-QĐ/TW, ngày
03/02/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật của Đảng và Quy định số
221-QĐ/TW, ngày 30/12/2013 của Bộ Chính trị quy định trách nhiệm của các
ban đảng Trung ương tham gia giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư; Quyết định số 210-QĐ/TW, ngày 08/11/2013 của Bộ Chính
trị ban hành quy định giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định số
211-QĐ/TW, ngày 08/11/2013 của Bộ Chính
trị về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư
quản lý; Quy định số 86-QĐ/TW, ngày 01/6/2017 của Bộ Chính trị quy định giám
sát trong Đảng; Quy định số 85-QĐ/TW, ngày 23/5/2017 của Bộ Chính trị về kiểm
tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí
thư quản lý./.